Top 10 bài văn thuyết minh về một con vật nuôi mà em thích hay nhất

11-05-2021 10 41955 0 2

Báo lỗi

Ở Tiểu học, những em học viên đã được làm quen với dạng văn mô tả những con vật. những em mô tả những tính chất về hình dáng phía bên ngoài, thói quen sinh hoạt của chúng qua những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Trong chương trình văn thuyết minh ở Trung học cơ sở, vẫn với đề tài này, những em phải cung ứng nhiều thông tin hơn trong bài văn của tôi về nguồn gốc, tính chất, giống loài, sinh sản, tập tính, lợi ích,… Để làm tốt dạng văn này, mời những em xem thêm một số bài văn thuyết minh về con vật nuôi mà Toplist tổng hợp trong bài viết sau.

12345678910

1


Bình An

Bài văn thuyết minh về con mèo

Có rất nhiều loài vật đã được con người thuần hoá, nuôi dưỡng và trở thành “thú nuôi” trong những giã đình. Nhưng trong số đó, hoàn toàn có thể nói mèo là loài vật được yêu chiều, nâng niu nhất.

Mèo nhà là một phần loài trong họ mèo (trong họ mèo còn có báo, linh miêu..). Theo những căn cứ khoa học đáng tin cậy thì chúng đã sống gần gũi với loài người trong vòng từ 3.500 năm đến 8.000 năm.

Có rất nhiều những giống mèo không giống nhau, một số không tồn tại lông hoặc không tồn tại đuôi. những màu lông mèo rất đa dạng: white color, màu vàng, màu xám tro… Có những chú mèo mang nhiều màu lông nên có những tên thường gọi như mèo tam thể (có ba màu lông), mèo vằn (hai màu lông chạy xen nhau), mèo đốm,…

Mèo con từ 1 tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy những động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo trèo, rình và vồ mồi. Mèo 4 tháng tuổi hoàn toàn có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng… Chúng giao tiếp bằng phương pháp kêu “meo”, “mi-ao”, “gừ-gừ”, rít , gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể. Mèo trong những bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau.

Thông thường mèo nặng từ 2,5 kg đến 7 kg. riêng biệt, một số chú mèo từng đạt tới trọng lượng 23 kg vì được cho ăn quá nhiều. Trái lại, cũng đều có những chú mèo rất nhỏ (vẫn chưa tới 1,8 kg), ở tình trạng nuôi trong nhà, mèo thường sống được từ 14 năm tới 20 năm. Chú mèo già nhất từng biết đến trên trái đất đã sống 36 năm.

Mèo giữ năng lượng bằng phương pháp ngủ nhiều hơn thế đa số những loài động vật khác, đặc biệt khi chúng già đi. Thời gian ngủ mỗi ngày có không giống nhau, thường là 12 giờ đến 16 giờ, mức trung bình 13 giờ đến 14 giờ. Một số chú mèo hoàn toàn có thể ngủ 20 giờ trong ngày. Vì thường chỉ hoạt động nhiều lúc mặt trời lặn, mèo rất hiếu động và hay đùa nghịch vào buổi tối và sáng sớm.

Mèo là những “vận động viên điền kinh” tài giỏi hoàn toàn có thể chạy rất nhanh và nhảy xuống đất từ độ cao lớn. Có điều đó vì chúng có kết cấu cơ thể rất đặc biệt.

Mèo có bốn chân, mỗi bàn chân đều có vuốt và đệm thịt ở phần tiếp xúc với mặt đất. Giống như mọi thành viên khác của họ mèo, vuốt của mèo thu lại được. Bình thường, ở vị trí nghỉ những vuốt được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón.

Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng không tiếp xúc với mặt đất cũng như được chấp nhận mèo đi nhẹ nhàng rình mồi. những vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Mèo hoàn toàn có thể giương một hay nhiều vuốt ra tùy theo nhu cầu. Khi rơi từ trên cao xuống, mèo hoàn toàn có thể sử dụng cảm giác thăng bằng sắc bén và khả năng phản xạ của nó tự xoay thân tới vị trí thích hợp. Khả năng này được gọi là “phản xạ thăng bằng.” Nó luôn chỉnh lại thăng bằng cơ thể theo một cách, khiến chúng luôn có đủ thời gian tiến hành phản xạ này khi rơi. Giống như chó, mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân: chúng bước trực tiếp trên những ngón, những xương bàn chân của chúng tạo thành phần thấp nhìn thấy được của cẳng chân.

Những bước đi của mèo rất chính xác, chính vì khi đi, chúng đặt bàn chân sau (hầu như) trực tiếp lên đầu của bàn chân trước, giảm thiểu tiếng ồn và dấu vết để lại, vì vậy nó rất thuận lợi trong việc săn mồi cũng như đi lại. Điều này cũng giúp chúng có vị trí đặt chân sau tốt khi bước đi trên bề mặt gồ ghề. Hỗ trợ đắc lực cho mèo trong quy trình di chuyển, ngoài chân ra còn có đuôi. Đuôi mèo dài và uyển chuyển, chúng được dùng để xua đuổi ruồi muỗi và tính năng chủ yếu là giữ thăng bằng khi chạy nhảy leo trèo.

Tai mèo khá thính. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao. Nhờ tính năng động cao của cơ tai mà mèo hoàn toàn có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Khi tức giận hay sợ hãi, mèo thường chĩa tai về phía sau đồng thời phát ra những âm thanh gầm gừ hay tiếng rít. Khi chơi đùa, tai mèo hoàn toàn có thể chĩa ra phía trước. Mắt mèo cũng là một bộ phận khá đặc biệt.

Nghiên cứu cho thấy tầm nhìn của mèo tốt nhất vào đêm tối so với người, và kém nhất vào ban ngày. Màu mắt của mèo khá đa dạng: màu vàng, màu đen, màu nâu, màu xanh… tạo thành những vẻ đẹp riêng của mèo và thú vị nhiều ánh nhìn khi về đêm. Về thính giác, con người và mèo có tầm thính giác ở mức thấp giống như như nhau, nhưng mèo hoàn toàn có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn, thậm chí tốt hơn cả chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó và có thân xác định chính xác vị trí một vật trong vòng 7.5cm khi nguồn phát âm cách khoảng 1 mét.

Khứu giác của mèo cũng rất phát triển. Nó mạnh gấp 14 lần so với của con người. Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp 2, do dó mèo hoàn toàn có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được.

Mèo là động vật ăn thịt thế cho nên đối tượng để nó săn mồi cho nhu cầu sống sót là những loài vật nhỏ như: chuột, rắn, cóc nhái, cá… Vũ khí để săn mồi là móng vuốt. Khi gặp con mồi, nó thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng.

Khi đến gần khoảng cách mà nó cảm thấy ăn chắc, loài mèo tung ra sức mạnh sau cuối bằng phương pháp đẩy mạnh 2 chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và chụp lấy con mồi. Ngày nay, loài mèo luôn sống với người qua nhiều thế hệ con cháu. Cho nên, đồ ăn của loài mèo là cơm hoặc đồ ăn sẵn. Nhưng đồ ăn ưa thích nhất của loài mèo vẫn là món cá.

Mèo thường tránh nơi ẩm ướt và ở rất sạch sẽ. Để làm dọn dẹp cho cơ thể, nó thường thè lưỡi ra, tiết nước bọt vào chân của nó rồi bôi lên mặt và toàn thân thể. Hành động này cho thấy mục đích nó muốn xóa sạch những vết bẩn, trong cả hơi tay của con người vừa mới bồng hay vuốt nhẹ nó. Loài mèo luôn tự làm lấy dọn dẹp cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo trong cả khi cơ thể của nó không tồn tại vết bẩn nào cả.

Trải qua một thời gian dài được con người thuần dưỡng, ngày nay, mèo trở thành một loài vật cưng trong nhiều gia đình, đặc biệt là những em nhỏ. Mèo không những là một “người bảo vệ”, một “dũng sĩ diệt chuột” mà còn là một loài vật cảnh hết sức dễ thương. Có lẽ bởi vậy, tinh cảm giữa con người và loài mèo sẽ ngày càng gắn bó hơn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn thuyết minh về con chó

Chó – loài động vật gần gũi với hầu hết những gia đình hiện nay. Đó là loài vật quen thuộc, trung thành, gần gũi mà ai cũng hoàn toàn có thể chăm sóc, yêu mến nó, thậm chí chó đã thành thú nuôi của rất nhiều tình nhân động vật.

Chó là loài động vật thứ nhất được loài người thuần hóa làm vật nuôi trong nhà cách đây khoảng mười lăm nghìn năm vào cuối kỉ băng hà. Tổ tiên của loài chó gồm có cả cáo và chó sói, là một loài động vật có vú. Loài chó mà chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ màu xám. Trong tiếng Việt, chó được nhiều người gọi là con cầy. hoàn toàn có thể thấy một số giống chó như là Béc- giê, Collie, Larbador, Chó Bắc Kinh,…

Chó là loài động vật bốn chân, ăn tạp. Kích thước trung bình của chó là dài 40-160 cm. Chó có tuổi thọ trung bình từ mười sáu đến mười tám năm. Chó có bốn chi: hai chân trước và hai chân sau, mỗi bàn chân đều có móng vuốt sắc nhưng khi đi thì cụp vào. Ngực nở, bụng thon. Lúc mới phát hành, chó con không tồn tại răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi đã hoàn toàn có thể có 28 chiếc răng. Sau khi sinh con non, con mẹ cho con non bú sữa vài tháng và lúc này con mẹ trở thành khá hung dữ. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc.

Mắt chó có đến 3 mí: một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Chó phân biệt vật thể thứ nhất là dựa chuyển động, sau đó ánh sáng và sau cuối là hình dáng. Vì vậy, mắt chó rất kém, chỉ phân biệt được màu lam và màu vàng. Bù lại, chúng hoàn toàn có thể quan sát khá rõ trong đêm tối.

Tai của chúng cực thính, chúng hoàn toàn có thể nhận được 35.000 âm rung chỉ trong một giây. Và, khứu giác của chúng cũng rất tuyệt vời. Người ta hoàn toàn có thể ngửi thấy mùi đồ ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì hoàn toàn có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con con nằm sâu trong rừng, vì chúng hoàn toàn có thể phân biệt gần 220 triệu mùi.

Ta có thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay lấy đuôi che cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình. Chó có đến 2 lớp lông: lớp phía bên ngoài như chúng ta đã thấy, lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong những ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ “hạ nhiệt” trong những ngày oi bức.

Chó có bộ não rất phát triển, xương quai hàm cứng. Đặc biệt, tai và mắt chó rất thính và tinh vào đêm tối. Chó vẫy đuôi để biểu lộ tình cảm. Chó là loài động vật có bộ phận tiêu hóa rất tốt. Chó có đặc tính là chạy rất nhanh bằng bốn chân, tốc độ lao về phía trước khoảng từ bảy mươi đến tám mươi kilomet một giờ. Hơn nữa, chó cũng đều có khả năng đánh hơi rất tài. Hiện nay chó hoang dã vẫn còn đó đấy tồn tại, nhưng chó được thuần dưỡng như chó nhà, chó cảnh thì phổ biến hơn.

Chúng ta phải thừa nhận một cách chắc chắn rằng chó là một con vật “đa năng”: chó giữ nhà, chó cảnh, chó cứu hộ, chó thể thao, chó nghiệp vụ… Loại chó bắt được tội phạm được gọi là chó nghiệp vụ, trinh thám và thường rất to, cao, tai vểnh, hoạt động nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh.

Chúng được nuôi rất công phu. Một số loại chó khác như chó săn thường rất khôn. Chó cứu hộ được dùng trong việc cứu hộ ở những bến cảng, sân bay, nơi xảy ra sự cố. Ở một số nước, người ta còn sử dụng chó để chăn cừu, kéo xe, dẫn đường cho người khiếm thị,… Khi là vật nuôi trong nhà, những chú chó chẳng khác nào những người vệ sĩ trung thành. Không thể kể hết những công việc mà chó hoàn toàn có thể giúp đỡ hoặc thay thế con người.

Ngoài ra thịt chó cũng là một loại đồ ăn rất giàu chất đạm. Nhưng không hẳn là chỉ có ích, nó còn rất đơn giản bị bệnh, đó là bệnh “dại”. Thường là thời gian đầu chó rất bình thường, ít người phát hiện ra để đề phòng. Khi bị chó dại cắn, lúc bấy giờ mới thấy rõ việc nguy hiểm đến tính mạng con người. Vì vậy cần phải tiêm phòng cho chó thường xuyên theo định kì để tránh bị mắc bệnh.

Chó là loài động vật rất có ích trong mọi lĩnh vực. Chó còn là bạn của con người bởi sự thông minh, lanh lợi, trung thành và nhiều tác dụng của nó. Chó được coi là loài động vật rất quan trọng và giúp việc đắc lực cho con người. Con chó luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như trong lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau. Vì thế, chúng ta cần yêu thương và chăm sóc tốt cho chúng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Đăng Khoa

Đăng Khoa 2019-12-16 04:48:23

Hay , giàu cảm xúc

3


Bình An

Bài văn thuyết minh về con gà

Gà là một loài vật nuôi gắn bó với đời sống của người Việt Nam, đem lại nhiều lợi ích cho con người, không những về vật chất mà cả về mặt tinh thần. Một loài vật thân thuộc hiện hữu trong bức tranh làng quê.

Gà là loài gia cầm được nuôi rất phổ biến. Gà có cánh tròn, ngắn, toàn thân phủ lớp lông mao bóng như bôi mỡ, cái đầu bé và cổ dài từ 10cm đến 12 cm. Gà có đôi mắt không tinh, thường không nhìn thấy gì vào buổi đêm. Để thích nghi với việc đào xới tìm mồi, gà có đôi chân sần sùi, móng cùn và cứng phủ những vẩy sừng màu vàng nhạt có cựa ở chân và một chiếc mỏ vàng khỏe mạnh, để mổ con mồi.

Theo những nghiên cứu, tổ tiên của chúng là gà rừng, theo sự thuần hóa của con người, dần dần chúng mất khả năng bay lượn, đa số chúng sử dụng chân để di chuyển trên mặt đất, đi lại và tìm mồi. Gà cũng đều có con trống, con mái. Gà trống có cái mào red color tươi oai vệ, bộ lông óng mượt, chân có cựa sắc nhọn thú vị sự để ý của con cái.

Những con gà trống còn được coi là đồng hồ báo thức sống, mỗi lần chúng cất tiếng gáy lại là một lần chuyển canh giờ, sự báo hiệu của ngày mới sắp bắt đầu. Còn gà mái, không tồn tại cái mào đỏ tươi rực rỡ như gà trống, bộ lông cũng không sặc sỡ, thường chỉ một màu. Vai trò chính của những con gà mái là sinh sản và nuôi con. Chúng tiến hành thiên chức làm mẹ của tôi, thường ấp trứng và những con gà con được sinh ra.

Gà mái đẻ một lứa từ 10 đến 20 trứng. Đa số những con gà mái đẻ thường kêu cục tác cục tác, ta lại nhớ đến câu “con gà cục tác lá chanh”. Gà con nở, đón chào một cuộc sống mới phía bên ngoài vỏ trứng, chúng như những cục bông màu vàng nhỏ xinh vây quanh gà mẹ, sung túc đủ đầy. đồ ăn của gà thường là thóc hay cám, nhưng chúng vẫn thường đào xới đất để tìm những hạt sỏi, cát hay những con giun đất. Đào xới đất vừa giúp chúng tìm kiếm đồ ăn vừa làm tăng độ khỏe của bộ móng và giúp gà mẹ dạy gà con khi mới nở.

Gà là một loài động vật có ích, đem lại nhiều lợi ích cho con người, cả về kinh tế lẫn sức khỏe. Trứng gà là nguồn thực phẩm lớn, cung ứng protein cho con người. Từ quả trứng gà có thế chế biến theo nhiều cách không giống nhau, như chiên trứng, luộc trứng,… Mỗi ngày chúng ta cũng hoàn toàn có thể ăn 1-2 quả trứng để đảm bảo hàm lượng protein và phòng tránh một số bệnh. Ngoài ra, thực tại trứng còn góp mặt trong việc làm bánh và được dùng trong cơ chế ăn giảm cân. Thịt gà cũng là một trong những thực phẩm hằng ngày, cung ứng protein cho cơ thể. Ngoài cung ứng nguồn thực phẩm trong đời sống hằng ngày, thì gà đáp ứng một số công việc trong đời sống hằng ngày như sử dụng lông gà làm chổi, làm quạt, sử dụng phân gà làm phân bón cho cây cối…

không những chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp của VN, mà con gà còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần. Gà đã đi vào tín ngưỡng của người dân Việt Nam. Tên khác của chúng là “Dậu”. Có năm “Đinh Dậu” cũng là tên thường gọi phổ biến để gọi năm đối với con người Việt Nam.

Gà còn đi vào những bức tranh Đông Hồ đậm tính truyền thống dân tộc qua nét vẽ của những người nghệ sĩ tài ba. Gà còn là món ăn không thể thiếu, luôn được đặt ở giữa mâm trong những ngày giỗ, cúng bái tổ tiên hay mâm cỗ ngày Tết cổ truyền. Gà còn đi vào lời ru, những lời ca dao từ xa xưa, những câu răn dậy con người ta về cách sống đẹp đẽ: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài / Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.

Gà là loài vật nuôi quan trọng trong đời sống, gắn bó thân thiết với con người và là một trong những nét truyền thống đẹp của Việt Nam hình tượng cho những ước mơ cơm áo đủ đầy.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn thuyết minh về con thỏ

trái đất xung quanh ta thật đa dạng và phong phú với rất nhiều chủng loại. Theo thời gian, con người dần càng gắn bó với những con vật, coi chúng như những người bạn gần gũi và thân thiện. Một số con vật khác được thuần hóa còn trở thành thú nuôi của con người. Trong số đó phải nói tới những chú thỏ cực kì đáng yêu – loài vật mà em yêu quý nhất.

những giống thỏ nhà trên trái đất hiện nay đều có nguồn gốc từ thỏ rừng (Orytolaguc cuniculus). Thỏ rừng ở châu Âu được phát hiện bởi những nhà ngữ âm học khi họ đến bờ biển Tây Ban Nha vào năm 1000 trước công nguyên. Từ đầu thế kỉ 19 việc nuôi thỏ đã phát triển khắp Tây Âu và được người châu Âu đưa thỏ đi du nhập ở toàn bộ những nước trên trái đất.

Cuối thế kỉ 19 và nhất là đầu thế kỉ 20 những giống thỏ đã thích nghi với điều kiện nuôi nhốt đã được chọn lọc và thay đổi dần về ngoại hình, sinh lý thích nghi với hoàn cảnh cụ thể và khả năng sản xuất thích hợp. Ở Việt Nam, thỏ được nhập vào cách đây hơn một trăm năm và được nuôi khá phổ biến, rải rác trên mọi vùng miền.

Thỏ là loài gia súc tương đối yếu, khá nhạy cảm và dễ có phản ứng cơ thể với những điều kiện thay đổi của môi trường phía bên ngoài như nắng, mưa, ẩm độ, nhiệt độ, đồ ăn, nước uống, tiếng ồn và những ô nhiễm môi trường khác. Loài thỏ khá đặc biệt với cùng một số tập tính như đào hang làm nơi trú ẩn và sinh sản, sống thành bầy và thông thường số cái nhiều hơn thế đực, thỏ cái thường dùng những vật liệu phối hợp với lông ở bụng để làm ổ trước khi đẻ, thỏ ăn và uống bất kỳ thời gian nào trong 24 giờ, chúng không ăn đồ ăn đã dơ bẩn, đã rơi xuống đất,…

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất và tác động trực tiếp đối với thỏ. Khi nhiệt độ thấp hơn 10 độ C thỏ cuộn mình để giảm diện tích chống lạnh, nhưng khi nhiệt độ từ 25- 30 độ C thì chúng sẽ nằm dài soải thân thể ra để thoát nhiệt. Thỏ rất thích điều kiện thông thoáng gió, sự lưu chuyển trong không khí vào khoảng 0.3m/giây là thích hợp nhất. Tuy nhiên nếu gió thổi trực tiếp vào cơ thể thỏ thì chúng hoàn toàn có thể bị bệnh viêm mũi và cảm lạnh.

Cơ quan khứu giác của thỏ rất phát triển, nó hoàn toàn có thể ngửi mùi mà phân biệt được con của nó hay con của con khác. Xoang mũi thỏ có nhiều vách ngăn chi chít hoàn toàn có thể ngăn chặn được những tạp chất bẩn trong không khí bụi hoặc từ đồ ăn. nổi trội trên bộ lông trắng muốt là chiếc mũi phớt hồng lúc nào cũng ươn ướt như người bị cảm cúm.

Cơ quan thính giác thỏ rất tốt. Thỏ rất nhạy cảm với tiếng động dù là rất nhẹ. Khi nghe thấy tiếng động, thỏ rất đơn giản sợ hãi, do vậy trong chăn nuôi tránh tiếng động ồn ào cho thỏ. Trong đêm tối, đôi mắt tròn xoe sáng lên như hai chiếc đèn pha nên vẫn nhìn thấy mọi vật, do vậy thỏ vẫn hoàn toàn có thể ăn uống đêm tối cũng như là ban ngày.

Thỏ là loại động vật đẻ con, mỗi lần sinh đẻ, thỏ cái hoàn toàn có thể đẻ từ một đến hai con, giai đoạn mang thai nối dài 31 ngày. Tuổi thọ của một con thỏ hoàn toàn có thể lên tới 10 năm hoặc hơn nữa tùy vào điều kiện sinh sống. Thỏ rất ưa những nơi thoáng đãng và khí hậu thông thoáng nên khi chăn nuôi, những hộ trang trại cần để ý đến yếu tố này. Vào mùa đông, thời tiết lạnh giá, nhiệt độ xuống thấp thì ta cần đảm bảo việc giữ ấm cho thỏ để chúng phát triển bình thường và không bị nhiễm bệnh.

Ngày nay việc nuôi thỏ để lấy thịt hay phục vụ một số nhu cầu khác đã đem lại một nguồn lợi kinh tế rất to lớn. Trong đời sống tinh thần, thỏ cũng đều có vị trí khá quan trọng. Thỏ là hình tượng của Tây Ban Nha vào thời kỳ La Mã. Trong mẩu truyện truyền thuyết Chị Hằng – Chú Cuội, chú thỏ ngọc đúng là người bạn tri kỷ thiết với chị Hằng nơi cung trăng. Thỏ thường được biết đến trìu mến là con vật cưng của nhiều gia đình.

Như vậy những chú thỏ nhỏ xinh không những đáng yêu, ngoan ngoãn mà còn rất hữu ích trong cuộc sống. Bởi vậy chúng ta hãy luôn yêu quý và chăm sóc thật tốt cho loài vật này nhé.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn thuyết minh về con vịt

Cũng như trâu, bò, chó, mèo, gà, lợn thì vịt cũng là một loài vật nuôi cực kì quen thuộc đối với con người, đặc biệt là đối với người nông dân. Ở Việt Nam, chăn nuôi vịt trở thành một ngành nghề riêng biệt đang rất phát triển, đem lại lợi ích kinh tế cao, thịt vịt là loại đồ ăn cung ứng nhiều chất dinh dưỡng và được rất nhiều người ưa thích. Tuy nhiên không phải ai cũng đều có những hiểu biết cơ bản về vịt.

Vịt nhà có nguồn gốc từ loài Vịt cổ xanh (tổ tiên của toàn bộ những giống vịt nhà), chúng xuất hiện những vùng ao đầm, phá của Châu Á, và xuất hiện ở những nước Đông Nam Á cách đây vài ngàn năm, được con người nuôi thả để cung ứng đồ ăn và lông.

tương tự như những họ hàng của chúng là thiên nga, ngỗng, ngan thì vịt được xếp vào nhóm thủy cầm (loài gia cầm sống, kiếm ăn dưới nước), phân biệt với những loài gia cầm khác là chim và gà. Tên khoa học của vịt là Anas platyrhynchos domesticus thuộc họ Vịt (Anatidae), bộ Ngỗng (Anseriformes), ở Việt Nam, phổ biến nhất là giống vịt cỏ, hay còn gọi là vịt chạy đồng.

Vịt cỏ có nhiều màu lông không giống nhau, có con là trắng thuần, có con nâu pha xám, cũng đều có con màu đen nhạt, một số con khác còn có màu lông như màu cà cuống xem những đốm đen nhỏ. Nguyên nhân vịt nhà có nhiều màu lông như vậy là do quy trình nuôi thả, chúng bị lai tạp giữa nhiều giống không giống nhau, nhưng có một điểm chung là loài vịt có một bộ lông mượt mà, dày và không thấm nước, giúp chúng nổi và không bị lạnh khi ở dưới nước lâu.

Thân vịt nhỏ, ngực lép, cổ dài, mắt sáng linh động, chân cao, giữa những ngón có màng bơi, giúp vịt di chuyển dưới nước dễ dàng. Dáng đi của vịt lạch bạch, nhìn khá hài hước, nhưng chúng di chuyển khá nhanh và bơi khỏe, kiếm mồi cũng rất giỏi.

Ngoài ra vịt cũng là một trong số ít những loài vừa hoàn toàn có thể di chuyển trên cạn, bơi được dưới nước và còn biết bay bởi đôi cánh to khỏe, dù không bay được xa do thân nặng. tính chất nổi trội nhất của vịt, cũng như toàn Bộ Ngỗng (Anseriformes) là chiếc mỏ dẹt, dài và khỏe, phần lớn chúng có màu vàng hơi cam, thuận tiện cho vịt xúc, rẽ nước tìm mồi. Về cân nặng, thông thường con trống trưởng thành nặng 1,7kg, con mái nhẹ hơn khoảng vào 1,5kg.

Vịt đẻ trứng quanh năm, con mái trưởng thành hoàn toàn có thể đẻ từ 150-200 quả trứng mỗi năm, tỉ lệ thụ tinh của vịt rất cao tầm 94,3%, tỉ lệ trứng ấp nở thành con là 81,2%, với tỉ lệ như vậy vịt được xem là loài duy trì giống nòi tốt. Thông thường, một con vịt nuôi từ 65-70 ngày là mọc đủ lông, 70-80 ngày là hoàn toàn có thể giết thịt.

Trong những năm gần đây, vịt được nuôi nhiều ở những vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, nơi có nhiều những đầm, phá, sông, đặc biệt nơi đây là vựa lúa lớn nhất, nhì toàn nước thế cho nên sau vụ thu hoạch, vịt nuôi thả hoàn toàn có thể tìm kiếm được nhiều đồ ăn từ phần lúa gặt còn sót lại.

Về giá trị kinh tế, vịt cỏ những năm gần đây ngày càng chiếm sản lượng lớn trong tổng sản lượng gia cầm cung ứng thực phẩm cho toàn nước và xuất khẩu. Thịt vịt có hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu protein, sắt, phốt pho, canxi cùng nhiều loại vi ta min khác, khi ăn có vị ngọt, dai và thơm, có thiết chế biến nhiều món ăn từ dân dã đến cao cấp.

Trong Đông y thịt vịt có vị ngọt, tính hàn dùng để bổ âm, dưỡng vị, có tác dụng bổ dưỡng, hợp với người mắc chứng âm hư nội nhiệt, mắc chứng nhiệt lâu ngày. không những thịt có giá trị, trứng vịt cũng là một loại thực phẩm phổ biến trong bữa ăn mỗi ngày, ngoài ra trứng còn được dùng trong việc tạo ra những loại bánh.

Vịt nhà là giống gia cầm quen thuộc, Hình như trở thành một hình tượng cho làng quê Việt Nam, đặc biệt là ở những vùng sông nước. Vịt không những mang lại giá trị kinh tế nâng cao thu nhập cho người nông dân mà không phải tốn quá nhiều kỹ thuật chăn nuôi, mà còn đem lại những món ăn ngon, giúp mâm cơm Việt thêm đậm đà bản sắc. Về vùng sông nước không một lần nếm món vịt luộc chấm mắm gừng quả là đáng tiếc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn thuyết minh về con lợn (con heo)

Cuộc sống của con người sẽ trôi đi tẻ nhạt và buồn chán biết bao nếu như không tồn tại những con vật để bầu bạn. Nếu như những chú mèo nhỏ xinh là con vật cưng của nhiều người, chú chó là người canh dữ dũng cảm thì chú lợn hiền lành, đáng yêu luôn đem lại cho người ta những giây phút thư giãn và yêu đời.

chắc rằng là ai cũng nhận biết được loài vật này, lợn trở thành một con vật nuôi quen thuộc với chúng ta. Lợn nhà có nguồn gốc từ lợn rừng, thứ nhất do con người săn bắn và hái lượm, họ bắt được lợn rừng và đem về nuôi. Dần dần con người ý thức và chọn lựa những con lợn tốt để nuôi còn những con kém chất lượng hoàn toàn có thể giết thịt nhằm cung ứng thực phẩm. Tổ tiên của lợn đúng là lợn rừng, Voncopvialov cho rằng lợn nhà được tạo ra từ những giống lợn rừng châu Âu và châu Á.

những giống lợn được phân thành những giống lợn chính và những giống lợn phụ. Ở rừng châu Á và châu Âu có tới bốn giống lợn chính và 25 giống lợn phụ. Lợn ngày nay được tạo thành ba giống lợn phụ của châu Á là Sus orientalis, Sus vitatus, Sus crytatus và một giống lợn châu Âu Sus crofa. Lợn rừng và lợn hoang dã cũng là những giống lợn không giống nhau ở vùng nhiệt đới và ôn đới. Lợn nước hoặc lợn đầm lầy là giống lợn thích nghi như những động vật bán thủy sinh.

Lợn thuộc vào thứ có guốc. Kích cỡ và hình dạng của lợn thường thay đổi không giống nhau tùy theo từng giống. Đầu và toàn thân lợn hoàn toàn có thể dài đến 190500mm, đuôi dài từ 35- 450mm. Lợn trưởng thành cơ thể nặng tới 350kg. Mắt của chúng nhỏ và dẹt, nằm cao trên hộp sọ. Tai của lợn khá dài và rủ xuống với cùng một núm lông nằm gần đầu mút.

Hộp sọ của lợn thường dày và có một điểm chấm khá bằng phẳng. Mũi của lợn to bằng bàn tay nắm lại và khá linh động. Cả bốn chân của lợn đều có móng nhưng nó chỉ thể hiện tính năng trong vận động ở những ngón giữa. Những chú lợn phủ lên mình bộ áo white color phớt hồng, điểm xuyết một vài chiếc lông trắng.

Lợn được nuôi để lấy thịt có chất lượng thịt thơm ngon, tỷ lệ thịt xẻ và tỉ lệ mỡ cao trong thân thịt. Lợn hoàn toàn có thể sản xuất một lượng mỡ đáng kể. Mỡ là một nguồn dự trữ năng lượng lớn, giúp cho thịt có mùi và vị ngon hơn. Ngoài ra thịt lợn vốn là loại thực phẩm có giá cao, ổn định trên thị trường.

Lợn có rất nhiều đóng góp giá trị cho đời sống của con người. Hầu hết thân thịt lợn đều sử dụng để chế biến hoặc làm đồ ăn cho con người. Da của lợn hoàn toàn có thể làm đồ ăn hoặc cung ứng cho ngành thuộc da, lông hoàn toàn có thể được dùng để làm bàn chải, bút vẽ….

Sự phát triển của công nghệ chế biến thịt xông khói, lên men đã tạo thành một số lượng sản phẩm rất đa dạng từ thịt lợn, những công nghệ này đã giúp cho quy trình bảo quản, nâng cao tính đa dạng, hương vị và nâng cao phẩm chất khẩu phần ăn cho con người.

Sau khi được thuần hóa, lợn sớm trở thành một món hàng có giá trị cho việc Marketing và buôn bán. Trước khi tiền tệ xuất hiện, con người đã tiến hành trao đổi lợn để lấy những loại hàng hóa khác. quy trình thương mại ra mắt cũng đều có tức là con lợn bắt đầu có giá trị kinh tế. Việc bán lợn và những sản phẩm lợn cung ứng một nguồn thu nhập cho hàng triệu gia đình nông dân trên trái đất.

những sản phẩm này đã tác động rộng đến những hoạt động Marketing khác như: thương mại, vận chuyển, thị trường, giết mổ, chế biến đồ ăn và nhiều lĩnh vực khác nữa. Ngoài ra nó còn có tác dụng kích cầu đối với những ngành chế biến đồ ăn, sản xuất con giống, tinh dịch, thuốc thú y và những thiết bị khác. Khi lợn có giá trị kinh tế, chúng là một hình thức tiết kiệm cho người dân.

Lợn đã được xem là một loài vật nuôi có tầm quan trọng không những vì giá trị đồ ăn mà còn có những giá trị văn hóa độc đáo. Điều này được thể hiện trong những bài hát, thơ ca, tranh ảnh hội họa, sách. Lợn được xem là có những đặc tính của con người. Nó được thể hiện là những đấng anh hùng hay là kẻ hung dữ trong những chuyện ngụ ngôn.

Những con lợn đem lại nguồn lợi rất to lớn cho người dân và mang những giá trị tinh thần to lớn. Vì vậy, ta cần chăm sóc và yêu quý loài vật này.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn thuyết minh về con bò

Từ những buổi đầu dựng nước, nhân dân ta đã biết tận dụng những con vật được thuần hóa như một công cụ lao động. Theo thời gian, những con vật ấy trở thành người bạn tri kỷ thiết gắn bó với con người, là cánh tay phải hỗ trợ đắc lực trong quy trình lao động của nhà nông. Và một trong những con vật cần nói tới là con bò, những con bò to khỏe, giúp người dân trong việc làm nông.

Theo những nghiên cứu thì bò hiện đại đã tiến hóa ra từ một tổ tiên chung là bò rừng châu Âu (B.primigenius). Loài này sống sót cho tới tận thập niên 1600 nhưng chúng đã bị săn bắn đến tuyệt chủng. Bò có ba phân loại đúng là Bos primigenius taurus, Bos primigenius indicus và Bos primigenius primigenius. Ở Việt Nam, bò được nuôi ở hầu hết những vùng miền, chủ yếu là bò vàng.

Bò là một loại động vật nhai lại. Bò cũng như trâu, không thể sống và tồn tại nếu không tồn tại quy trình nhai lại, bởi nhai lại không những có tính năng nghiền nát đồ ăn mà còn có tác dụng tăng tiết nước bọt, ổn định môi trường dạ cỏ. Thời gian nhai lại khoảng 5 – 8 giờ/ngày đêm, tùy thuộc vào tính chất vật lý của đồ ăn.

Khác với gia súc dạ dày đơn, dạ dày bò có 4 ngăn (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế). Mỗi túi lại có tính năng riêng. Dạ cỏ, dạ tổ ong được coi như phòng lên men yếm khí, tại đây có những quy trình phân giải và lên men những thành phần dinh dưỡng trong đồ ăn. Ðồng thời những sản phẩm của quy trình lên men được hấp thu qua vách dạ cỏ, những tiểu phần đồ ăn có kích thước lớn được ợ lên và nhai lại. Dạ lá sách được coi như hệ thống lọc, ở đây đồ ăn tiếp tục được nghiền nát nhỏ hơn, lọc và hấp thu chất dinh dưỡng và nước. Dạ múi khế là dạ dày thực của bò, có những tuyến và dịch tiêu hóa giúp phân giải những chất mà ở những phần của dạ dày trên vẫn chưa phân giải được.

Nhờ có bộ máy tiêu hóa như vậy nên bò có khả năng sử dụng và chuyển hóa những đồ ăn thô xanh (cỏ, lá cây…), những phế phụ phẩm của nông nghiệp (rơm rạ, thân cây ngô…), công nghiệp chế biến (bã bia, bã dứa, bã sắn…) có giá trị hàng hóa thấp, thậm chí không tồn tại giá trị thành những sản phẩm có giá trị cao cho con người (thịt, sữa..).

Bò hoàn toàn có thể tự gặm cỏ trên đồng cỏ, và nhờ tính chất này nên bò đã giúp con người khai thác tối ưu những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có (đồng cỏ, bãi chăn thả..) và lao động dư thừa, ngoài độ tuổi. Nhờ vậy, ngành chăn nuôi bò rất thiết thực và mang lại tác dụng kinh tế cao cho người dân.

Bò cung ứng hai loại thực phẩm có giá trị cao đối với con người là thịt và sữa. Thịt bò được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao. Sữa được xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì nó hoàn chỉnh về dinh dưỡng và rất đơn giản tiêu hóa. Cả thịt và sữa đều cung ứng một lượng lớn protein, đồng thời bổ sung một số vi lượng như sắt cho cơ thể. Ngày nay khi mức sống càng được cải thiện thì nhu cầu của con người về thịt và sữa trâu bò càng tăng thêm.

Ngoài đáp ứng nhu cầu về thực phẩm, bò còn được dùng trong phát triển nông nghiệp, dùng sức kéo để cày bừa, chở hàng hóa cho con người. Mỗi khi mùa vụ đến thời điểm thu hoạch, hàng tạ, hàng tấn lúa chất ngoài đồng được những con bò to khỏe kéo xe chở về nhà người dân, đẩy nhanh việc vận chuyển, đỡ phần nào về sức lực cho người dân. không những sử dụng bò trong việc chở lúa, người dân còn dùng trong việc buôn bán, đẩy mạnh phát triển kinh tế.

Với việc khai thác những vai trò nói trên của bò thì chăn nuôi bò trước kết là một hoạt động kinh tế. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò được chấp nhận khai thác tối đa những nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, kể cả những nguồn năng lượng hoàn toàn có thể tái tạo đang bị bỏ phí gây ô nhiễm môi trường như rơm rạ và những phụ phẩm cây trồng khác, để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao cho xã hội. Chăn nuôi bò do vậy mà trở thành kế sinh nhai, là một phương tiện xóa đói giảm nghèo, là công cụ để góp phần phát triển bền vững.

Bò đã đi vào đời sống văn hóa của con người. Ở Ấn Độ, bò như con vật thiêng của tôn giáo. Những chú bò giản đơn nhưng lại có vị trí hết sức quan trọng trong cuộc sống. Vì vậy mọi người hãy luôn yêu thương và chăm sóc chúng thật tốt.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn thuyết minh về con trâu

Nhắc đến hình ảnh làng quê Việt Nam thì chắc rằng mỗi người đều có trong mình một hình dung. Đó hoàn toàn có thể là một không gian thoáng đãng, thanh thản, yên ả với những cánh đồng xanh ngát trải đến tận chân trời, với dòng sông hiền hòa trở nặng phù sa, với mái đình rêu phong cổ kính. Và ở bất kỳ nơi đâu ta cũng bắt gặp hình ảnh con trâu khi thì cần mẫn cày ruộng, khi thì thong thả nhai rơm. Hình ảnh đó trở thành quen thuộc và gần gũi với bao thế hệ người Việt.

Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng, thuộc nhóm trâu đầm lầy nhưng trải qua quy trình thuần hóa mà trở thành như hiện tại. Trâu được phân bố khắp vương quốc và trở thành người bạn đồng hành cùng dân tộc ta. Nó có thân hình thấp, ngắn và vạm vỡ, khỏe mạnh. Trâu thường có màu đen với vạch loang dưới cổ họng và phía trên ngực.

Trâu có lớp da dày, đen, thô ráp với lớp lông cứng và khá mỏng được phủ lên toàn thân. Đầu của con trâu to, ngắn với đôi sừng màu đen, nhọn và cong về phía sau, phát triển hơn so với bò. Ngày xưa, người dân thường dựa vào cặp sừng trâu để phân biệt trâu lành hay trâu dữ: sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm cùng cặp mắt to dữ thì phải coi chừng có biện pháp thuần phục. Thân hình trâu vạm vỡ, thấp ngắn, bụng to, mông dốc.

Ngoại hình như vậy cùng với độ khỏe của nó rất thích hợp với việc kéo cày. Được ba tuổi là trâu hoàn toàn có thể đẻ lứa đầu. Trâu đẻ cũng đều có mùa vụ, mỗi năm chỉ đẻ từ một đến hai lứa. Một con trâu cái thường sinh từ năm đến sáu con nghé và nghe sơ sinh thì nặng khoảng từ 20 đến 25 kg. Trâu được phân theo giống đực và giống cái. Chúng thì không giống nhau cơ bản về sức khỏe và ngoại hình.

Từ thuở xa xưa ông cha ta đã biết sử dụng trâu như một công cụ lao động hữu ích. Trâu được sử dụng để kéo cày, để tiết kiệm thời gian và sức lao động cho người nông dân. Mỗi ngày trâu đực thường cày được khoảng từ ba đến bốn sào còn trâu cái là từ hai đến ba sào.

Bên cạnh đó trâu còn được dùng để kéo xe với trọng lượng từ 400kg đến một tấn tùy thuộc vào loại xe và loại đường. Mùa màng có bội thu và đúng thời vụ hay không một phần là nhờ vào việc cày bừa của trâu. Sức trâu rất bền, làm việc được trong một thời gian khá lâu mà không phải nghỉ ngơi nhiều.

Trâu còn có khả năng cung ứng thịt. Thịt trâu có chứa hàm lượng đạm cao mà chất béo lại thấp, ăn rất thơm và ngậy. Với giá thành dao động từ 200.000 vnđ đến 300.000 vnđ thì trâu đã đem lại nguồn lợi kinh tế khá ổn định cho người nông dân, giúp họ cải thiện đời sống.

Người ta cũng thường thu được lợi ích kinh tế từ sữa trâu. Mỗi chu kì vắt thì thường thu được từ 400 đến 500kg sữa. Da trâu rất dày nên thường được dùng làm trống. Còn sừng trâu được mài giũa trở thành đồ mỹ nghệ, trang trí cho nhà cửa rất đẹp và sang trọng.

Không biết tự khi nào con trâu trở thành hình tượng của làng cảnh Việt Nam và làm bạn với toàn bộ mọi người. Từ những đứa bé thì tuổi thơ của chúng cũng gắn bó với trâu, trở thành người bạn tri kỷ thiết. Mỗi buổi chiều khi gió thổi mát rượi, khi mặt trời đã lặn dần về phía lũy tre làng cũng là lúc bọn trẻ đồng quê dắt trâu ra đồng cho chúng ăn cỏ.

Trên lưng trâu, chúng cùng cất lên tiếng hát trong trẻo, ngây thơ; cùng bắt đầu với những nét vẽ đầu đời khi coi lưng trâu là bảng. Không những vậy, chúng còn hò reo vui vẻ thả diều trên lưng trâu. Con diều bay cao cao mãi trên bầu trời đã mang theo bao nguyện ước ngày xanh.

Con trâu còn là hình tượng đẹp cho phẩm chất và tính cách của người Việt Nam. Là một trong 12 con giáp, con trâu là hình ảnh của những con người chịu thương, chịu khó, cần mẫn và chăm chỉ làm việc. không những vậy, đó còn là những người hiền lành có nhẫn nại.

Trâu trở thành một phần đời sống tinh thần của người Việt. Con trâu gắn liền với những lễ hội nổi tiếng như lễ hội chọi trâu đầy kịch tính ở Đồ Sơn – TP Hải Phòng hay lễ hội đâm trâu của một số dân tộc ở Tây Nguyên.

Con trâu Việt Nam cũng là đề tài, là nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều tác giả từ bài ca dao “ Trâu ơi ta bảo trâu này” hay trong bài thơ “quê nhà” của Giang Nam.

Những năm gần đây con trâu còn vượt khỏi lũy tre xanh, trở thành hình tượng của SEAGAMES 22 được tổ chức tại Việt Nam. Ngày nay tuy có nhiều phương tiện lao động hiện đại nhưng con trâu vẫn luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống, làm bạn cùng dân tộc ta đến muôn đời.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn thuyết minh về con chim bồ câu

Chim bồ câu là giống chim nuôi hiền lành, xinh đẹp, được mọi người ưa thích. Dù ở thành phố hay ở nông thôn, người ta vẫn hoàn toàn có thể nuôi được bồ câu.

Tổ tiên bồ câu nhà là bồ câu núi, hiện còn sống hoang dã ở nhiều vùng núi châu Âu, châu Á và Bắc Phi… Chim bồ câu được loài người thuần hóa thứ nhất ở Ai Cập, cách đây khoảng 5000 năm. cho tới nay, trên trái đất có khoảng 150 giống bồ câu. Ở Việt Nam, chim bồ câu hơi nhỏ, trọng lượng chỉ khoảng năm, sáu lạng, có nhiều màu lông không giống nhau như trắng, xám, nâu, xanh đen, đốm… Bồ câu quốc tế như Pháp, Mĩ, Hà Lan có trọng lượng gần 1 kg

Thân hình của bồ câu gần giống như chim gáy nhưng lớn hơn một chút. Toàn thân chim bồ câu được bao phủ bởi một lớp lông vũ. Mình chim hình thoi, đuôi ngắn xòe rộng khi bay. Cổ chim dài khoảng 6 đến 7 phân, mỏ nhỏ và cong. Đôi mắt màu nâu tròn và sáng. Đầu chim quay đi quay lại rất linh hoạt, giúp chim dễ dàng mổ đồ ăn, rỉa lông rỉa cánh.

Đôi chân thanh mảnh màu hồng sậm có vảy bảo phủ gồm 4 ngón, 3 ngón trước, một ngón sau đều có móng sắc, giúp chim đi lại nhẹ nhàng. Bồ câu tương đối dễ nuôi. Chúng ăn những loại hạt như thóc, lúa mì, ngô, đỗ… và rất ít khi bị bệnh.

Chim bồ câu nhà tuy sống trong điều kiện nuôi dưỡng tốt song vẫn mang những tính chất của chim bồ câu núi. Chúng thích sống thành từng đôi, sống theo đàn, trong những ngăn chuồng khô ráo, sạch đẹp. Con trống có động tác gù mái, con mái đẻ mỗi tháng một lứa hai trứng.

Chim bồ câu bay rất giỏi, hoàn toàn có thể đạt tới tốc độ 100 km/h và bay lâu hàng trăm ki-lô-mét không nghỉ như chim bồ câu đưa thư, song khi chúng đi trên mặt đất thì lại chậm rì rì và vụng về.

Hiện nay, người ta nuôi chim bồ câu để ăn thịt và làm cảnh. Thịt bồ câu là món ăn cao cấp ngon và bổ. Món miến xào thịt chim, món chim bồ câu rô ti, món chim bồ câu hầm với hạt sen, thuốc bắc có tác dụng bồi bổ sức khỏe rất tốt.

Chim bồ câu gắn bó với đời sống tinh thần của con người từ nhiều năm. Mỗi sớm mai, được nghe tiếng chim gù, được nhìn những cánh chim bay vút lên trời xanh, tâm hồn con người trở thành thư thái, dễ chịu cực kì!

Bố em rất thích nuôi chim bồ câu. Bố đóng cả dãy chuồng cho chim. Những chiếc chuồng được sơn màu xanh lá cây, cửa tròn viền trắng. Trước chuồng là tấm ván rộng chừng ba tấc để làm chỗ cho chim đậu và tắm nắng. Đấy là tổ ấm của những cặp vợ anh xã, con cái bồ câu.

Cặp chim non mới nở được gần một tháng. Trông chúng mới ngộ nghĩnh làm sao! Chiếc mỏ màu hồng nhạt to quá cỡ lúc nào cũng há rộng ra như chờ đón. Tiếng kêu chim chíp yếu ớt. Đôi chân nhỏ xíu lẩy bẩy đỡ tấm thân trụi lủi, thưa thớt mấy đám lông măng. Đôi mắt chúng tròn xoe, ngơ ngác nhìn ngó xung quanh, lấy làm lạ lắm.

Chim mẹ chao nghiêng đôi cánh rộng, nhẹ nhàng đáp xuống bên con. Chim non cuống quýt há mỏ đòi ăn. Chim mẹ mớm mồi từng chút, từng chút vào cái mỏ háu đói. Mặc cho chim non thúc giục, chim mẹ chẳng vội vàng. Chim bố nãy giờ đứng ở đầu chuồng canh chừng. Nó ngắm nhìn chim mẹ, chim con rồi cất tiếng gù gù, vẻ hài lòng lắm.

Cảnh tượng trên gợi lên trong lòng em một niềm xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng. Tiếng chim trong buổi sáng giữa vườn cây trái sum suê gợi lên cuộc sống êm ả, thanh thản, đáng yêu biết mấy!

Chim bồ câu rất có ích cho con người. Hình ảnh con chim bồ câu trắng là hình ảnh tượng trưng cho hòa bình và thủy chung của nhân loại.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn thuyết minh về con cá chép

Cá chép, một loại cá quen thuộc, gắn bó với đời sống nhân dân ta từ xưa đến nay trên phương diện kinh tế và quan niệm tâm linh. Với vị trí địa lí gần biển, nhiều sông hồ, cá chép đã và đang trở thành nguồn lợi lớn cho người nông dân nuôi trồng, đánh bắt thủy thủy hải sản tại VN.

Cá chép có nguồn gốc ở châu Âu và châu Á, hiện đã có mặt ở hầu hết những ao hồ trên trái đất. Chiều dài tối đa của cá chép hoàn toàn có thể lên đến 1,2 mét và nặng tối đa 37,3kg. Cá chép nước mặn thường có Xu thế nhỏ và nhẹ hơn cá nước ngọt. Ở Nhật, cá chép còn có giống cá Koi, loại cá chép có màu sắc sặc sỡ, được nuôi làm cảnh.

Cá chép thường có màu vàng, đen, màu sắc sẫm dần về phía vây lưng. Thân cá chép thon dài, hẹp ở hai phần đầu và đuôi. Vảy cá xếp sát nhau tạo thành lớp bảo vệ cho cá khỏi va xước khi di chuyển. Đầu cá chép nhỏ, mắt đối xứng hai bên cùng hệ thống giác quan gồm mũi, miệng và râu. Mang cá áp sát thân, là cơ quan hô hấp để cá thở được dưới môi trường nước.

Ngoài lớp vây bám dọc thân, cá chép có hai vây nhỏ sát mang giúp di chuyển dễ dàng. Đuôi cá hình rẻ quạt, chia đôi đối xứng có tính năng giữ thăng bằng, giúp cá bơi đúng hướng. Trong quy trình bơi, cá chép uốn mình, hai thùy vây đuôi uốn thành hình số tám, đưa thân cá tiến lên phía trước. Sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa vây đuôi, vây lưng và và đôi vây ngực khiến cá chép di chuyển nhanh gọn, dễ dàng.

Cá chép thường ăn những thực vật mềm như rong, rêu, thích sống thành bầy để cùng nhau kiếm ăn. Chúng ăn gần như mọi thứ bơi ngang qua chúng gồm có những loại thực vật thủy sinh, côn trùng, giáp xác, thậm chí là cả cá chết. Cá chép sinh sản theo mùa, mỗi ổ trứng cá sinh sản được từ ba đến bốn nghìn cá thể cá con. Số lượng cá chép mỗi mùa rất lớn, mang đến nguồn lợi kinh tế cao cho người chăn nuôi.

Cá chép có giá trị dinh dưỡng cao, thịt có vị thơm ngon khi nuôi trong môi trường nước sạch. Vây và đầu cá chép được chế trở thành cá bài thuốc Nam gia truyền. Theo y học, cá chép tốt cho bà bầu và sản phụ sau sinh, giúp lợi sữa, bổ tì vị. Tại Việt Nam, cá chép được nuôi chủ yếu ở sông, hồ, dễ bắt, dễ chế trở thành những món ăn bổ dưỡng như cá chép om dưa, cháo cá chép, rán giòn,…

Về tinh thần, cá chép theo quan niệm dân gian được cho là con vật gắn với hình tượng sức khỏe dồi dào, trường thọ. Truyền thuyết “cá chép hóa rồng” dùng để nhắc đến sự thi cử đỗ đạt của học trò, sự thành công trong làm ăn, buôn bán. Vào dịp lễ Tết, cá chép được coi là phương tiện rước Táo về trời, kết thúc một năm cũ để chào mừng năm mới an khang, thịnh vượng. Cá chép cũng được chọn làm con vật linh, dùng để phóng sinh khi đi chùa chiền, lễ Phật.

Cá chép là loài động vật gần gũi, thân thuộc với người Việt Nam. Để đảm bảo chất lượng và số lượng cá chép, cần bảo tồn, nuôi trồng có kế hoạch, khai thác hợp lý, điều độ để cá chép có điều kiện và khả năng sinh sản tốt, phục vụ nhu cầu con người.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 bài văn thuyết minh về một con vật nuôi mà em thích hay nhất, Top 10 bài văn thuyết minh về một con vật nuôi mà em thích hay nhất, Top 10 bài văn thuyết minh về một con vật nuôi mà em thích hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *